Hai độ lệch chuẩn xác định khoảng cách từ đường trung bình động đến mỗi biên dải. Chúng không cho giao dịch kế tiếp của bạn xác suất thành công 95%. Nhầm lẫn xuất hiện khi một con số thống kê quen thuộc bị biến thành lời hứa về thị trường luôn thay đổi.
Bài học Read the Reaction này xuất phát từ một lưu ý của John Bollinger, rồi làm rõ bằng phép tính riêng. Câu hỏi là dải giá đo được điều gì, chứ không phải biểu đồ trông thuyết phục đến đâu.
Bắt đầu từ lưu ý của người tạo ra chỉ báo
Trong bài kể về quá trình phát triển dải Bollinger, Bollinger nhớ lại thời gian làm việc với quyền chọn và phân tích kỹ thuật sau khi tham gia thị trường toàn thời gian vào năm 1980. Ông muốn độ rộng của dải thích ứng với biến động. Đây là công cụ phân tích kỹ thuật xuất phát từ thị trường truyền thống, không phải chiến lược crypto cơ học hoàn chỉnh.
Quy tắc thứ 14 của ông cảnh báo rõ rằng việc công thức sử dụng độ lệch chuẩn không đủ để suy ra các tính chất thống kê. Áp dụng lưu ý đó ở đây không có nghĩa ông đưa ra bài tập này, khuyến nghị crypto hay tuyên bố hiệu suất nào.
Con số 95% đến từ đâu?
Với một biến có phân phối chuẩn, khoảng 95.45% xác suất nằm trong phạm vi hai độ lệch chuẩn tổng thể quanh trung bình tổng thể. Bảng tham chiếu của NIST nêu kết quả toán học đó. Nó phụ thuộc vào phân phối và tham số của phân phối; cài đặt “2” trên biểu đồ không xác lập những điều kiện ấy. Bài dùng dấu chấm để phân cách phần thập phân.
Trung bình trượt và độ lệch chuẩn trượt được tính từ một cửa sổ hữu hạn, liên tục thay đổi. Chúng không phải tham số đã biết của một phân phối chuẩn ổn định cho mức giá tiếp theo. Tính độ phân tán không chứng minh dữ liệu có phân phối chuẩn. Hai cửa sổ 20 nến liền nhau còn dùng chung 19 quan sát, nên một chuỗi dài kết quả không tự động tạo thành bằng chứng độc lập.
Khoảng tin cậy cho trung bình đề cập đến mức bất định khi ước lượng trung bình đó, như NIST giải thích. Khoảng dự đoán dành cho quan sát tương lai và cần giả định, phép tính riêng. Phương pháp giới hạn dự đoán của NIST tính đến việc ước lượng tham số từ mẫu. Không thể tự động gán hai tên gọi này cho dải giao dịch.
Tính độ rộng trước khi diễn giải
Bài tập dùng cách dựng truyền thống mà Bollinger mô tả: trung bình động đơn giản 20 kỳ, cộng và trừ hai lần độ lệch chuẩn tính theo công thức tổng thể của cùng các giá đóng cửa. “Công thức tổng thể” chỉ quy định mẫu số ở đây; không có nghĩa 20 mức giá đại diện cho toàn bộ thị trường.
Trung bình bằng tổng 20 giá đóng cửa chia 20. Để tính độ lệch chuẩn, lấy từng giá trừ trung bình, bình phương các chênh lệch, cộng lại, chia cho 20 thay vì 19, rồi lấy căn bậc hai. Kết quả có cùng đơn vị giá với dữ liệu đầu vào. Ta đang đo mức giá, không phải tỷ suất thay đổi theo phần trăm.
Giả sử một thị trường spot hư cấu có các giá đóng cửa nến một giờ, đơn vị USD mỗi token. Giá đóng cửa 1–20 luân phiên 98, 102, 98, 102, đủ mười cặp. Tất cả đều do bài tập đặt ra; đây là phép tính, không phải dữ liệu thị trường hay kiểm thử chiến lược trên dữ liệu lịch sử.
Tại lần đóng cửa 20, trung bình là 100. Mỗi chênh lệch bình phương bằng 4, nên độ lệch chuẩn là √(80 ÷ 20) = 2. Dải dưới và trên là 96 và 104. Cả 20 giá đầu vào đều nằm trong khoảng cuối cùng này. Tỷ lệ bao phủ hồi cứu 100% đó không cho biết xác suất của giá đóng cửa tiếp theo, cũng không phải phép so từng giá lịch sử với dải tại chính thời điểm của nó.
Giữ nguyên dải rồi mới xem giá đóng cửa tiếp theo
Trước khi có giá đóng cửa 21, ghi lại khoảng 96–104. Sau đó công bố giá giả định 104.50. Nó cao hơn biên trên đã giữ nguyên vì 104.50 > 104.00.
Tiếp theo cập nhật cửa sổ tính toán: bỏ mức 98 cũ nhất và thêm 104.50. Cửa sổ mới có chín mức 98, mười mức 102 và một mức 104.50. Trung bình là 100.325; phương sai là 4.706875 USD² mỗi token².
| Đại lượng | Lần 20 | Lần 21 |
|---|---|---|
| Trung bình | 100.000 | 100.325 |
| Độ lệch chuẩn | 2.000 | 2.170 |
| Dải dưới | 96.000 | 95.986 |
| Dải trên | 104.000 | 104.664 |
Cũng mức 104.50 ấy lại nằm trong dải đã cập nhật. Không có sự đảo chiều nào: chính quan sát mới đã góp phần thay đổi khoảng dùng để so sánh nó. Dải tại lần đóng cửa 20 vẫn giữ nguyên ở thời điểm 20; đây là cửa sổ mới, không phải viết lại cửa sổ cũ.
Cả hai phép so đều hợp lệ nếu ghi rõ cách làm. Chỉ khoảng giữ nguyên mới có sẵn trước lần đóng cửa 21. Một kết quả không đủ để ước lượng tỷ lệ bao phủ đáng tin cậy, và trường hợp được dựng này không chứng minh lợi thế giao dịch.
Ghi riêng ba câu hỏi
Một quy trình xem xét có thể lặp lại cần phân biệt:
- Bao phủ tại cùng thời điểm: mỗi giá đóng cửa hoàn tất có nằm trong dải được tính gồm chính nó không? Tính bằng biên là nằm trong; loại các nến đầu chưa đủ cửa sổ dữ liệu.
- Bao phủ giá đóng cửa kế tiếp: giá đóng cửa sau có nằm trong dải đã giữ nguyên tại lần đóng cửa trước không? Giữ cố định thời hạn một nến. Đóng cửa bên trong không nói gì về việc giá vượt ra ngoài trong nến.
- Kết quả giao dịch: các quy tắc vào lệnh, thoát lệnh và quy mô vị thế cụ thể tạo ra lãi lỗ bao nhiêu sau chi phí? Hai cách đếm bao phủ không cung cấp lệnh hay giá khớp.
Ghi lại sàn, công cụ, ranh giới nến, nguồn giá, cài đặt và ngày bắt đầu/kết thúc mẫu. Đếm mọi trường hợp đủ điều kiện, không chỉ ảnh biểu đồ đẹp. Tách dữ liệu đánh giá về sau khỏi dữ liệu dùng để chọn cài đặt; cửa sổ chồng lấn và điều kiện thay đổi hạn chế điều có thể kết luận từ một tỷ lệ thô. Hướng dẫn kiểm thử giải thích vai trò của định nghĩa kết quả và phạm vi dữ liệu.
Dùng dải cho đúng câu hỏi
Dải cho biết vị trí của giá so với cửa sổ gần đây. Nó không xác định tin nào gây ra biến động hay dự báo thông báo tiếp theo. Bài học về tin tức và kỹ thuật tách chất xúc tác khỏi phản ứng quan sát được.
Trước khi viết “95%”, hãy nêu sự kiện cần đo, thời hạn, phép tính và bằng chứng hỗ trợ con số ấy. Nếu thiếu chúng, hãy giữ cách đọc dải ở mức mô tả và không đưa tuyên bố xác suất vào kế hoạch giao dịch.
Chỉ nhằm mục đích giáo dục, không phải tư vấn tài chính. Mọi ví dụ giá đều là giả định; không cài đặt dải nào bảo đảm giá nằm trong dải hay bảo đảm lợi nhuận.